Lê Đ̀nh Nghiêm - Nghệ nhân cuối cùng của ḍng tranh hàng trống         

-Trong ba ḍng tranh dân gian tiêu biểu được sản xuất theo phương pháp thủ công gồm tranh điệp Đông Hồ - Bắc Ninh, tranh đỏ Kim Hoàng - Hà Tây cũ th́ tranh Hàng Trống được cho là ḍng tranh có phong cách, quan niệm và phương pháp khác hẳn.

Người nắm rơ phong cách, quan niệm và phương pháp tranh Hàng Trống ở Việt Nam hiện nay là cụ Lê Đ́nh Nghiên. Ông là nghệ nhân hiếm hoi c̣n “trụ lại” với nghề làm tranh Hàng Trống ở Hà Nội…

Tranh – người “đuối sức” như nhau

Nhắc đến tranh Hàng Trống, nhiều người từng biết, đam mê, sành chơi sẽ không khỏi lo lắng trước nguy cơ xóa sổ ḍng tranh dân gian độc đáo này. Năm 1972, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mời nghệ nhân Lê Đ́nh Nghiên phục chế những bức tranh Hàng Trống c̣n sót lại, nhằm “kéo dài tuổi thọ” cho tranh.

Ông Nghiên (bên phải) nhận bằng khen của UBND TP Hội An v́ đă có đóng góp cho “Những ngày giao lưu văn hóa Việt - Nhật tại Hội An – 2008

Ông Nghiên cầm tinh con Hổ, nhưng là một người hiền, điềm đạm và mẫn tiệp khi được ai đó hỏi chuyện về ḍng tranh một thời quy tụ ở phố Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Ḥm, Hàng Quạt của đất Hà Thành xưa. Sinh ra trong một gia đ́nh có truyền thống làm tranh ở làng làm tranh truyền thống B́nh Vọng (Hà Tây cũ), nhưng từ nhỏ ông đă theo gia đ́nh lên phố Hàng Trống để làm tranh cùng với ông nội và bố. Nhà tuy đông (7 anh chị em) nhưng chỉ mỗi ông là theo nghề của ông nội và cụ thân sinh. Đến đời ông, lấy vợ sinh được hai con trai và cả hai anh cũng đă được ông “nhen lửa nghề”. Vậy nhưng, “nhen th́ nhen rồi đấy, c̣n bùng lên, cháy hết ḿnh cho ḍng tranh đang “đuối sức” bên cạnh những ḍng tranh hiện đại nhờ vào sự phát triển vượt bậc của công nghệ, liệu chúng ta có bản lĩnh mà ǵn giữ hay không lại là chuyện khác” – cụ Nghiên nói.

Có lẽ lo lắng “lửa nghề” trong các con ḿnh chưa đủ mạnh để tiếp tục làm sáng lạn một ḍng tranh mà ông, cha đă truyền lại, nên ông Nghiên thi thoảng vẫn cơng tranh  đi đây đó, tham gia trưng bày triển lăm nhằm “lưu giữ di động” một nét văn hóa truyền thống của Hà Nội xưa với công chúng. Biết đâu, nói như ông, những cuộc “chinh phục bằng tranh” ấy sẽ đánh động, làm thức dậy quá khứ huy hoàng của một ḍng tranh đă và đang dần ngủ quên trong trí nhớ của ít nhiều người dân Việt th́ sao? Và, cũng biết đâu đấy, công cuộc kiếm t́m “người giữ lửa cho tranh Hàng Trống sẽ không chỉ có một người, nhiều người hưởng ứng mà thậm chí hẳn một thế hệ đủ tâm huyết, tài năng và niềm tin sẽ cùng ông “cứu sống và gây dựng lại” một sản phẩm kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần. Sau rồi, nói vô phép, dẫu ông có khuất núi, quy tiên cũng an ḷng rằng ḍng tranh đă gắn với văn hóa người Tràng An thanh lịch, gắn với cuộc đời ḿnh sẽ vẫn được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công nhưng vẫn thể hiện được tính nghệ thuật cao, hàm chứa những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc?!

Với thâm niên gần 60 năm gắn bó với nghề làm tranh Hàng Trống, nghệ nhân Lê Đ́nh Nghiên không chỉ khẳng định ông là người “khéo tay hay nghề” mà qua đó c̣n cho thấy cái Tâm – Tầm – Tài của ḿnh với di sản văn hóa quư báu mà các thế hệ cha ông đă sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau. Tâm được ông thể hiện ở ḷng chung thủy với nghề. Tầm được thể hiện qua những nét vẽ tinh hoa, dồn đọng trong mỗi bức tranh mà ông vẽ. Tài của ông thể hiện ở chỗ, trong khi nghệ thuật đương đại đang lên ngôi với nhiều h́nh thức thể hiện phong phú như muốn thoát ra khỏi văn hóa truyền thống, hăng hái kiếm t́m cái tôi bản thể riêng lẻ, tiếng tăm lừng lẫy, thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng, th́ ông vẫn “nhất nhất vô nhị” sống với nghề, không màng cả đến việc nghề có nuôi nổi thân hay không?!

Hành tŕnh đơn độc

Theo phân tích của một số nhà nghiên cứu th́ tranh Hàng Trống chịu ảnh hưởng rơ rệt của các luồng tư tưởng, văn hóa, tôn giáo của vùng miền; là kết quả của sự giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo và Nho giáo; giữa loại h́nh tượng thờ, điêu khắc ở đ́nh, chùa với những nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá hàng ngày và thực sự phát triển cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Từ thế kỷ 16, Hoàng Sĩ Khải thời Mạc, ở bài thơ Tứ thời khúc vịnh, đoạn tả cảnh Tết ở kinh thành Thăng Long đă có nói đến tranh dân gian và tục chơi tranh Tết:  Chung Quỳ khéo vẽ nên hinh/ Bùa đào cấm quỷ, phong linh ngăn tà…/ Tranh vẽ gà, cửa treo thiếp yểm/ Dưới thềm lầu hoa điểm Thọ Dương…  được các gia đ́nh ở kinh thành treo cùng với các thần trừ ma khác...

Ông Lê Đ́nh Nghiên, nghệ nhân cuối cùng của ḍng tranh cổ Hàng Trống

 

Tranh Hàng Trống có hai ḍng chính là tranh thờ và tranh Tết, nhưng chủ yếu là tranh thờ dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, phục vụ đền phủ của Đạo giáo, nhất là tranh thờ của Đạo Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giầy, Nam Định) Tứ Phủ cộng đồng; Bà chúa thượng ngàn; Mẫu Thoải… và đặc biệt là tranh Ngũ hổ. V́ trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hổ là con vật đă từ lâu được tôn thờ. Danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là Ông (thờ Ông Ba Mươi). Loại tranh này thường được các nghệ nhân chạm bằng vàng, bạc thật dát mỏng hoặc “b́nh dân” th́ được in khuôn h́nh và tô màu bằng tay… rất cầu kỳ. Tiếc là giờ đây, hầu như các nhà làm tranh đều bỏ nghề. Nhiều nhà c̣n đốt bỏ hết những dụng cụ làm tranh như ván, bản khắc, một phần do thú chơi tranh của người Hà Nội đă đổi khác, một phần do việc làm tranh không có thu nhập cao.

Hiện nay, trong số bản khắc tranh Hàng Trống c̣n giữ lại được, có mấy tấm đặc biệt giá trị, lưu tại Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội bằng gỗ thị dầy dặn, khắc cả hai mặt, theo đề tài rút từ kinh nhà Phật hay cổ tích Việt Nam, Trung Hoa. Đặc biệt bản khắc kèm cả tuổi tranh Quư Mùi lục nguyệt khởi Minh Mệnh tứ niên (1823 dương lịch). Nghĩa là ván được khắc cách đây đă ngót hai trăm năm, là cơ sở để các khà khoa học tin rằng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khá sớm. Nhưng để xác định chính xác là năm nào th́ chưa thấy sách nào ghi lại!

Tôi thỉnh xin một vài bí quyết khi ông “vẽ chơi” cũng như phục dựng tranh Hàng Trống cổ cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam th́ ông hỏi ngược: Bí quyết ư? Không ǵ cả! Xưa kia mài mực, pha màu cho bố, có lẽ lâu dần nó thành cữ ở trong đầu nên khi tôi thực hành cái tay nó khắc sẽ tuân theo sự điều khiển của cái cữ ấy mà thành. Người xem tranh cho tôi là giỏi, nhưng tôi th́ cảm thấy b́nh thường như chưa đạt được ǵ cả và càng không dám nói là đă măn nguyện với những tác phẩm ḿnh làm ra. V́ măn nguyện là đầy đủ. Nếu ai cũng đầy đủ cả rồi, không thấy thiếu, thôi khát khao và không cần hướng đến cái đích nào nữa th́ dễ trở nên đơn điệu”.

Khôi phục và phát triển các ḍng tranh dân gian, trong đó có tranh Hàng Trống là một việc cần thiết để giữ ǵn các giá trị văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Nhưng có lẽ, công việc đó là rất khó thực hiện, nhất là với ông - nghệ nhân duy nhất c̣n sót lại đang từng ngày “độc hành đơn điệu” trong việc bảo tồn, ǵn giữ ḍng tranh quư đang có nguy cơ mai một này!

                               

                                                                                                                                      (TT&VH)