Bia tiến sĩ tại văn miếu - Quốc Tử Giám là Di sản tư liệu thế giới         

 

Tin từ UBND TP Hà Nội cho biết chiều 9-3 tại Macao, Trung Quốc, trong phiên họp toàn thể thường niên Ủy ban kư ức thế giới khu vực châu Á - Thái B́nh Dương của UNESCO, hồ sơ bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê và Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội (bia tiến sĩ Văn Miếu) đă được công nhận là di sản tư liệu thế giới.

Sau mộc bản triều Nguyễn, bia tiến sĩ Văn Miếu là di sản tư liệu thứ 2 của Việt Nam được đưa vào danh mục di sản tư liệu thuộc chương tŕnh Kư ức thế giới (Memory of the World) của UNESCO. Đây là sự kiện vô cùng ư nghĩa với thủ đô trước thềm đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Bia tiến sĩ - Ảnh tư liệu

Pho “sử đá” đồ sộ

Bia đá đặt tại khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám vinh danh tên tuổi những người đỗ trong các kỳ thi tuyển tiến sĩ triều Lê và Mạc. Trên mỗi tấm bia khắc một bài văn (bài kư) bằng chữ Hán, nội dung ghi lại lịch sử của các khoa thi tổ chức từ năm 1442-1779. Có 82 tấm bia tương ứng với 82 khoa thi được dựng. Tấm bia tiến sĩ đầu tiên được dựng năm 1484 đời vua Lê Thánh Tông, ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442. Tấm bia cuối cùng được dựng vào năm 1780 cho khoa thi tổ chức vào năm 1779.

Có thể t́m thấy ở đây tên tuổi của nhiều danh nhân từng được nhắc nhiều trong các sách sử Việt Nam như nhà sử học Ngô Sĩ Liên - tiến sĩ năm 1442 đă soạn bộ sách Đại Việt sử kư toàn thư; nhà bác học Lê Quư Đôn - tác giả của Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ…; nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc Ngô Th́ Nhậm đỗ tiến sĩ khoa 1775 đă giúp vua Quang Trung chiến thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử…

Không chỉ là nguồn tư liệu phong phú phản ánh một giai đoạn lịch sử hơn 300 năm dưới triều Lê - Mạc, bia tiến sĩ Văn Miếu c̣n là bức tranh sinh động về việc tuyển dụng và đào tạo nhân tài độc đáo ở Việt Nam, thể hiện ở tư tưởng trị quốc dựa vào nhân tài.

Ngay ở tấm bia đầu tiên (khoa 1442) đă chỉ rơ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững th́ thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém th́ thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”.

Tấm bia năm 1448 lại nhắc “Nhân tài đối với quốc gia quan hệ rất lớn” và “Phải có đào tạo sau mới có nhân tài”. Nhiều tấm bia sau cũng nhắc đi nhắc lại ư “nhân tài là nguyên khí quốc gia”; bia các năm 1556, 1604, 1703, 1763, 1772 nhấn thêm ư “phải vun trồng, bồi dưỡng nhân tài”.

Từ những tấm bia tiến sĩ, người đời sau lĩnh hội được nguồn tư liệu có giá trị để t́m hiểu thân thế, sự nghiệp của các sứ thần Việt Nam, cùng mối quan hệ bang giao giữa các nước vùng Đông Bắc Á. Trong số 1.304 tiến sĩ được khắc tên trên 82 bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám có 225 vị từng được cử đi sứ sang Trung Quốc vào các triều Minh (1368-1644), triều Thanh (1644-1911).

Mặt khác, trong các nước có ảnh hưởng của Nho giáo như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam th́ chỉ có Việt Nam có bia tiến sĩ mang nội dung phản ánh tư tưởng chính trị, triết học, giáo dục khoa cử của triều đại, nhờ đó có thể nghiên cứu sự phát triển, thay đổi của Nho giáo trong việc quản lư đất nước của các triều đại ở khu vực thông qua bài văn khắc trên bia.

Xứng tầm di sản thế giới

Giá trị và nét độc đáo của 82 bia tiến sĩ chính là những bài văn khắc trên bia. Trên thế giới nhiều nước dựng bia, nhưng chỉ duy nhất bia tiến sĩ Văn Miếu có bài kư ghi lịch sử các khoa thi và triết lư của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, sử dụng nhân tài. Những bài kư trên bia tiến sĩ được viết bằng chữ Hán với những cách viết khác nhau, khiến mỗi tấm bia như một tác phẩm thư pháp.

Những bài văn bia này phần lớn đều do những danh nhân văn hóa, trí thức lớn của đất nước soạn, nên về cơ bản là những tác phẩm vô giá, góp phần làm nên truyền thống văn hóa, giáo dục của Việt Nam. Có thể kể đến bài kư đề tên tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) do Thân Nhân Trung (từng giữ chức thượng thư bộ lại, Đông các đại học sĩ kiêm tế tửu Quốc Thử Giám) soạn.

Trong đó có đoạn “Kính nghĩ: việc dựng bia đá là cốt để làm cho thịnh ư mưu trị cầu hiền của các bậc thánh đế thần tông được lưu truyền măi măi. Đó chính là phép lớn để rèn giũa người đời và là điều rất may cho Nho học”. Đoạn khác lại nêu luận điểm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, rồi lại đặt câu hỏi “ Kẻ sĩ ở chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn mà được triều đ́nh đề cao rất mực như thế th́ người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân ḿnh mà lo báo đáp, đáng phải như thế nào?”.

Mỗi tấm bia c̣n là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, kết tinh trí tuệ, bàn tay của những nhà văn hóa, thư pháp, nghệ nhân hàng đầu Việt Nam các thời kỳ và là loại h́nh văn bản đặc biệt của di sản tư liệu, làm phong phú thêm cho thể loại của kư ức thế giới. Tất cả 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đều được chế tác theo cùng một phong cách: bia dẹp, trán cong, h́nh ṿm.

Các tấm bia được đặt trên lưng rùa, rùa cũng được tạo dáng theo một phong cách chung: to, đậm và chắc khỏe. Trang trí trên bia rất đa dạng, phản ánh sự phát triển h́nh tượng nghệ thuật theo thời gian, nhờ đó hiểu được lịch sử phát triển mỹ thuật của Việt Nam từ thế kỷ 15-18. Đây được coi là những bằng chứng sống động của trí tuệ và bàn tay khéo léo của những nghệ nhân Việt Nam .

Cho đến nay bia tiến sĩ Văn Miếu vẫn là những bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi được dựng; phần lớn các hoa văn và văn tự c̣n rơ, có khả năng đọc được. Các bài văn bia cho biết rơ ngày tháng dựng bia, tên của người soạn văn bia, người dựng bia. Chữ viết trên bia, các hoa văn trang trí cùng phong cách tạo dáng bia, rùa đều mang dấu ấn của thời đại sản sinh ra chúng. Điều này khẳng định tính xác thực, nguyên bản, duy nhất của tư liệu - những tiêu chí quan trọng mà chương tŕnh Kư ức thế giới đặt ra.

Ngày nay bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn có sức hút mạnh mẽ đối với các học giả, du khách, chính khách trong và ngoài nước. Hằng ngày có hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng, t́m hiểu về chế độ tuyển chọn và đào tạo nhân tài, sử dụng hiền tài, quan điểm về giáo dục của người Việt Nam xưa. Rất nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách quan trọng của các nước trên thế giới đă đến đây và đánh giá cao giá trị và ư nghĩa của những tấm bia đá.

 

                                                                               (TT&VH)