|
Tác
phẩm Cho chim ăn của Nguyễn Phan Chánh,
45x65,7cm, lụa,
Christie’s năm 2004.
|
Ví dụ như Sotheby’s, họ đă
đặt văn pḥng tại Singapore ở khoảng năm
1985, nhưng tới những năm 1996-1997 mới diễn
ra những phiên đấu giá đầu tiên đối
với tác phẩm của nhiều họa sĩ trong khu
vực, trong đó có Việt Nam.
Tranh Việt Nam xuất hiện
đầu tiên ở các phiên đấu giá của
Sotheby’s vào khoảng năm 1997, với những tên
tuổi như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm,
Bùi Xuân Phái... Ngay những năm sau đó, tranh Việt
Nam đă có một vị trí không thể thiếu
được ở những phiên đấu giá, bởi
sự hâm mộ của nhiều nhà sưu tập, nhà
đầu tư nghệ thuật đến từ Pháp,
Singapore... Tranh Việt Nam đă đóng góp vào sự thành
công về doanh thu của nhà đấu giá, rất
nhiều các tác phẩm đưa ra chào bán đă có giá
vượt xa sự phỏng đoán của giới chuyên
môn, kéo theo đó là hàng loạt các danh họa được
biết đến, như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân,
Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí,
Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên... Những danh họa
này trở thành đối tượng săn lùng của
nhiều người nước ngoài, và được
hâm mộ rất cao ở nhiều phiên đấu giá
tiếp theo.
Rất nhiều người hâm
mộ nước ngoài có thời kỳ lùng sục để
mua bằng được tranh của các tác giả
vừa kể trên, mua ngay ở trong nước, chứ không
thông qua quy tŕnh chuyên môn của nhà đấu giá, và cũng
từ đó, tranh giả đă xuất hiện rất
nhiều, rồi lần lượt có mặt trong các phiên
đấu giá danh tiếng tại khu vực. Điều
này đă góp phần vào việc “đóng lại
cửa”, khiến cho tranh Việt có thể mất cơ
hội được đấu giá.
Những khúc quanh
Gần đây, có vụ lùm xùm
quanh chuyện họa sĩ Bùi Thanh Phương kiện nhà
đấu giá nổi tiếng, làm tốn rất
nhiều giấy mực của báo chí, có nhắc tới
một nhân vật tên Philip Ng (tên đầy đủ).
Philip Ng là một thương gia người Singapore,
một nhà đầu tư nghệ thuật. Ông ta quan tâm
tới tranh Việt Nam ở những năm đầu
thập niên 1990, thông qua sự tư vấn của chuyên
viên nhà đấu giá; ông chỉ mua khi được
bảo chứng bởi sự thẩm định của
người phụ trách tranh Việt Nam tại các nhà
đấu giá. Kể từ lúc đó đến tận
bây giờ, phải thẳng thắn nói rằng kiến
thức về tranh Việt của ông ta là rất ít
ỏi, nên sự sai lầm v́ “lệ thuộc” hoàn toàn
vào người khác là đương nhiên.
Một người Pháp nghiên
cứu về tranh Việt Nam, có tên là J.F.Hubert (Cố
vấn cao cấp về tranh Việt Nam tại Paris), là
một chuyên viên thẩm định của các nhà đấu
giá danh tiếng, đă nhiều lần đóng dấu
bảo đảm cho việc mua tác phẩm của Philip
Ng, nên việc ông Ng nhầm lẫn một số tranh
của danh họa Bùi Xuân Phái là điều hết
sức b́nh thường. Ngay đến năm 2008, sau khi
đă bán hết bộ sưu tập trong ṿng 10 năm
đầu tư tại Hong Kong, ông vẫn tự tin và
khẳng định rằng số tranh của Bùi Xuân Phái
là bản chính, bởi ông tin tưởng vào đánh giá
của người tư vấn. Mà chuyên môn, quá tŕnh làm
việc và chữ tín của nhà tư vấn lại là
một câu chuyện dài, có dịp chúng ta sẽ quay
lại vấn đề này.
Tại nhà đấu giá, các tác
phẩm trước khi được đem bán, phải
trải qua rất nhiều khâu, và được sự
đồng ư hay thẩm định bởi những chuyên
gia về tranh Việt Nam, bằng những tờ xác
nhận đảm bảo. Ở những thập niên trước,
khi thị trường tranh bùng phát, đặc biệt là
các tác phẩm của những họa sĩ trường
Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, có
rất nhiều người nước ngoài, Việt
kiều... săn lùng tranh tại Việt Nam, thị trường
tranh giả xuất hiện. Đó là chưa nói, do không
phân biệt được, các tác phẩm giả c̣n
được “đóng mác” bởi cơ quan chuyên trách
về xuất nhập khẩu văn hóa quốc gia, chưa
kể những tác phẩm copy từ bản chính do đặc
tính của hoàn cảnh lịch sử ngoại giao.
Rất nhiều người Pháp, Việt kiều, các nhà
sưu tập nước ngoài... đă sở hữu
rất nhiều tác phẩm “giả như thật” là
vậy. Và chính họ, ngày nay mang ra nhà đấu giá
để bán lại, với sự đảm bảo
bởi các chuyên viên đấu giá, và cả các giấy
tờ xác nhận chính quy từ Việt Nam.
Tác
phẩm Ngựa của Nguyễn Sáng, 45x70cm, sơn mài,
Sotheby’s năm 2006.
Khoảng từ 1998 đến 2002 có H.Th.C., một nhà sưu
tập Việt kiều, nổi danh tại Việt Nam và
thị trường tranh trong khu vực, cũng là một
đầu vào quan trọng. Ông là một trong những nhà
cung cấp tranh cho các nhà đấu giá tại Singapore,
Hong Kong. Ông có quan hệ tốt với người
phụ trách tranh Việt Nam, nên nhiều tác phẩm copy
trong bộ sưu tập của ông được bán
tại nhà đấu giá “y như thật”. Đỉnh
điểm, và chính xác là vụ scandal về tác phẩm
Nguyễn Sáng, báo chí trong nước cũng đă
tốn nhiều giấy mực về sự kiện này.
Ông này cũng là người môi giới và giới
thiệu cho nhà đấu giá nhiều khách hàng tiềm năng
là Việt kiều.
Cũng đă xuất hiện nhiều người
Việt tại Mỹ quan tâm tới tranh Việt Nam, như
T.Ph., H.Ng. Trong đó H.Ng. là một trong những người
thiệt hại nặng nhất, đă mất khoảng
600.000 USD v́ mua phải tranh giả, sự việc kéo dài
trong khoảng sáu năm, từ 2000 đến 2005. Tất
cả số tranh đó đều được mua
tại Việt Nam, trải dài từ Hà Nội, Huế, Sài
G̣n... của nhiều gallery danh tiếng, của một
số nhà sưu tập đáng kính, qua sự “cài đặt
chiến thuật” của một nhóm người. Sau này,
có nhiều tác phẩm trong quỹ đạo tranh giả
đó được gửi bán tại một số nhà
đấu giá trong suốt mấy năm, số tiền
thu được từ nhà đấu giá chỉ
bằng khoảng 40% số vốn bỏ ra. Hiện nay,
H.Ng. đă từ bỏ giấc mơ đầu tư vào
nghệ thuật, như đă từng làm thời gian trước
đó. Và nghệ thuật chân chính Việt Nam đă
mất đi một "Mạnh Thường Quân"
tiềm năng, tài lực và đầy nhiệt
huyết. C̣n tại Việt Nam, người ta làm tranh
giả như thế nào? Có lẽ báo chí cũng đă
phần nào hé lộ câu chuyện, thực hư thế nào,
th́ xin nói trong một dịp gần đây.
Và cú phản đ̣n
Các chuyên viên có biết tranh giả không? Câu trả
lời là: Họ biết. Thậm chí, họ cũng có
thể phân biệt được hầu hết các tác
phẩm ở dạng nghi ngờ, với các tác phẩm
không thật. Tại các nhà đấu giá chuyên
nghiệp, hoạt động theo những nguyên tắc tưởng
lạnh lùng, th́ vẫn có những quan hệ mang tính cá
nhân, và luật im lặng, nên tranh giả chui vào. Trong các
vựng tập đấu giá, rồi các người
điều phối phiên đấu, hay có những ghi chú,
là người mua tự t́m hiểu lai lịch hay
xuất xứ. Bởi thực tế cho thấy, ngay
cả các vựng tập cá nhân của các danh họa
Việt Nam, được thế hệ hậu bối in
tại Việt Nam, cũng “độn” nhiều tranh
giả.
Tác
phẩm Mùa gặt của Nguyễn Tiến Chung, 64x122cm, sơn
mài, Christie’s năm 2004.
Nói rộng hơn một chút, khi nh́n
tranh giả được in trong các vựng tập đấu
giá, nhiều người đă đồng ư ngầm
với nhau rằng đă và đang có một đường
dây tranh giả, đang làm ăn về tranh giả
Việt Nam. Họ thuộc về một nhóm nhà sưu
tập Việt Nam sống ở nước ngoài, kết
hợp với một số người có thẩm
quyền về tranh Việt Nam ở trong nhà đấu giá,
cũng là những Việt kiều tại Pháp, Mỹ...
Tại Pháp, lượng tranh copy c̣n đa dạng,
rải rác ở nhiều gia đ́nh và các sưu tập
tư nhân, phổ biến là tranh của Nguyễn Phan Chánh,
Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên,
Bùi Xuân Phái... Đó chính là hệ quả của một
thời gian dài, từ những thập niên 1970 đến
thập niên 1990, rồi cả hiện nay, một số
người Việt đă cho những người nước
ngoài, những Việt kiều (vốn thiếu thông
tin)... “no đ̣n” v́ tranh giả như thật, ở
trong nước. Và bây giờ, chúng ta lại “no đ̣n”
v́ những hệ lụy của nó gây ra từ những
nhà đấu giá khu vực, những “phản đ̣n”
ngược lại v́ lượng tranh giả vẫn
được treo trên kệ nhà đấu giá.
Bên cạnh đó, giá tranh Việt vẫn thấp
nhất trong khu vực, nếu chỉ so tác phẩm
của những bậc thầy với nhau, nên vẫn c̣n
có vẻ “lôi cuốn” được những người
trong nước (!?). Hơn nữa, với thông tin là
khoảng 90% tranh đẹp đang ở nước ngoài;
mà nước ngoài th́ đang mất niềm tin vào tranh
Việt, nên nhiều người Việt gần đây
muốn ra ngoài mua tranh mang về; nhưng do thiếu thông
tin, nên cầm tranh giả là cái chắc. Như một cái
ṿng luẩn quẩn.
Công bằng mà nói, chúng ta đáng phải chịu
những hệ lụy của món nợ về tranh
giả này, bởi khi có nhiều thông tin hơn, những
người có tranh giả Việt Nam ở nước
ngoài sẽ t́m cách trút hết nó vào các nhà đấu
giá khu vực và thế giới, bởi họ có cơ
sở “pháp lư” để làm vậy. Kết quả
của việc này, là đẳng cấp tranh Việt
mất phẩm giá, thậm chí sẽ bị vắng bóng
khỏi các nhà đấu giá danh tiếng trong tương
lai bởi sự mất niềm tin của giới sưu
tập trong khu vực, thế giới.
*
Một số tác phẩm trong bài này đă từng
xuất hiện ở các nhà đấu giá khu vực,
được giới sưu tập và chuyên gia trong nước
nghi ngờ là tranh giả!?
(TT&VH Cuối tuần)